Các bạn đã từng nghe qua câu “lời nói không mất tiền mua, lựa
lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Một câu nói khi nói ra có thể là một câu nói làm
ấm lòng người khác, nhưng cũng có những câu nói khiến cho người khác phải đau
lòng. Không những thế, có những người còn đặt điều, nói xấu hơn nữa vu khống ảnh
hưởng nghiêm trọng tới danh dự và nhân phẩm của người khác. Trong luật pháp
cũng có quy định về hành vi bịa đặt, nói xấu xâm hại đến nhân phẩm người khác.
Sau đây, các bạn hãy cùng Luật Danh Chính chúng tôi tìm hiểu về điều này.
![]() |
| Pháp luật quy định về tội vu khống. |
Theo quy định tại Điều 122 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa
đổi bổ sung ngày 19-6-2009) và các văn bản liên quan, vu khống là hành vi bịa đặt,
loan truyền những điều mà người loan truyền biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm
danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa
đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
Tội vu khống được biểu hiện ở những hành vi như bịa đặt chuyện
xấu xa cho người khác về vi phạm kỷ luật, vi phạm đạo đức, pháp luật... Bịa đặt
là hư cấu những chuyện không có thật; loan truyền những chuyện, những điều biết
rõ là bịa đặt, vu oan cho người khác; bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ
trước cơ quan nhà nước, cho rằng họ đã phạm một tội nào đó. Hành vi vu khống có
thể thực hiện thông qua các hình thức như truyền miệng, viết bài, gửi đơn, thư
tố giác, thư nặc danh... Trường hợp người đưa tin bịa đặt nhưng lầm tưởng những
điều họ loan tin là có thật thì không phạm tội. Hậu quả xảy ra là nạn nhân bị mất
uy tín, danh dự hoặc bị thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Tội vu khống
được coi là hoàn thành từ khi người phạm tội thực hiện hành vi loan truyền những
điều bịa đặt cho người khác biết hoặc tố cáo với cơ quan nhà nước về việc người
khác phạm tội.
Theo quy định tại Điều 122 bộ luật hình sự thì:
1. Người có hành vi bịa
đặt, loan truyền những điều này sẽ bị xử phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ
đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
2. Người phạm tội trong các trường hợp sau sẽ bị phạt tù từ
một năm đến bảy năm.
a) có tổ chức;
b) lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) đối với nhiều người;
d) đối với ông, bà,
cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình; đ) đối
với người thi hành công vụ;
e) vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt
nghiêm trọng.
3. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một
triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm
công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
Có thể bạn quan tâm:
>>> Hành vi lừa đảo qua mạng Internet có vi phạm pháp luật không?
>>> Hành vi lừa đảo qua mạng Internet có vi phạm pháp luật không?
Nếu như bạn đang gặp bất cứ vấn đề nào mang tính pháp lý xin vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn.
Mọi thắc mắc xin gửi về:
Văn phòng Luật Danh Chính tại TP. Hồ Chí Minh- Phòng tư vấn Luật hình sự.
Lầu 4 Khu 4 Tòa nhà Indochina Park Tower, Số 4 Nguyễn Đình Chiểu, phường Đa Kao, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
ĐT : (08) 6 2876 830 - (08) 6 2876 831
Fax:(08) 6 2876 832
Email: sg.danhchinh@gmail.com

0 nhận xét:
Đăng nhận xét