![]() |
| Tự ý thay đổi cổ đông công ty cổ phần. |
Câu hỏi:
Cho phép tôi gửi lời chào tới quý luật sư, sau đây xin nhờ luật sư tư vấn giúp tôi vấn đề này.
Tôi hiện nay là Giám đốc Công ty cổ phần XYZ. Vì là Giám đốc công ty cổ phần nên hiện nay tôi đang là cổ đông nắm giữ số cổ phần nhiều nhất là 60% vốn điều lệ công ty. Anh B có số cổ phần là 25% và người giữ vai trò là kế toán trưởng công ty có số vốn điều lệ là 15%. Hiện tại, vì lý do cá nhân nên tôi muốn chuyển 25% số cổ phần của cổ đông B cho một người khác nắm giữ. Vậy xin hỏi luật sư rằng: Việc chuyển số vốn góp cổ phần cho một người khác như vậy có đúng với quy định hay không?
Trả lời:
Chúng tôi rất vui vì đã nhận được sự tin tưởng của bạn khi gửi câu hỏi về cho chúng tôi, sau đây Luật Danh Chính xin trả lời thắc mắc của bạn về việc thay đổi cổ đông như sau:
Theo quy định của bộ luật dân sự 2005
“Điều 163. Tài sản
Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.
Điều 164. Quyền sở hữu
Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền
định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền
là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản.
Căn cứ vào khoản 1 Điều
1 Nghị định số 11/2012 Về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm có
quy định
“9. Giấy tờ có giá bao gồm cổ
phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng
chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền
và được phép giao dịch”.
Theo thông tin bạn cung cấp thì công ty bạn là hình thức
công ty cổ phần với số lượng cổ đông là 3 người. Bạn muốn chuyển 25% cổ phần
của cổ đông B cho người khác thì theo quy định của pháp luật thì chỉ có thể
chuyển nhượng được khi người chiếm giữ 25% đó đồng ý chuyển nhượng cho người
khác. Vì đây là tài sản hoàn toàn hợp pháp của họ nên họ có toàn quyền chiếm hữu,
sử dụng định đoạt tài sản đó, bạn không phải là chủ sở hữu nên chỉ được quyền
thỏa thuận với người đó chuyển nhượng cho người khác chứ không có quyền chuyển
nếu không được sự đồng ý của chủ sở hữu. Bạn chỉ là chủ sở hữu đối với 60% cổ phần nên bạn chỉ có quyền chiếm hữu sử dụng định đoạt trong số 60% đó.
Nếu bạn cần tư vấn thêm hoặc giải quyết các vấn đề pháp lý nào liên quan đến Luật Doanh nghiệp xin hãy vui lòng liên hệ với chúng tôi.
Mọi
thắc mắc xin gửi về:
Văn phòng Luật Danh Chính tại TP. Hồ Chí Minh- Phòng
tư vấn Luật doanh nghiệp
Lầu 4
Khu 4 Tòa nhà Indochina Park Tower, Số 4 Nguyễn Đình Chiểu, phường Đa Kao, quận
1, thành phố Hồ Chí Minh.
ĐT :
(08) 6 2876 830 - (08) 6 2876 831
Fax:(08)
6 2876 832
Email:
sg.danhchinh@gmail.com

0 nhận xét:
Đăng nhận xét